Logo Chua Linh Son
Hinh Hoa Thuong Huyen Vi
Cố Hòa Thượng
Thích Huyền Vi
Hinh Thay Tri Hue
Thượng Tọa Trụ Trì
Thích Trí Huệ

  Kinh Tụng (Audio)
   Thầy Thích Trí Thoát
    .  Niệm Phật
    .  Kinh A Di Đà 
    .  Kinh Phổ Môn
    .  Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu
    .  Kinh Lăng Nghiêm
    .  Kinh Địa Tạng
          -  Quyển Thượng
          -  Quyển Trung
          -  Quyển Hạ
   Thầy Thích Trí Thống
    .  Kinh Kim Cang
    .  Kinh Lăng Nghiêm
          -  Phần 1
          -  Phần 2
   Thầy Thích Huyền Ý
   .   Kinh Dược Sư

  Kinh Giảng (PDF) 
   HT Thích Thanh Từ
    .  Kinh Pháp Bảo Đàn
    .  Lăng Già Tâm Ấn
    .  Bát Đại Nhân Giác
    .  Diệu Pháp Liên Hoa
    .  Kinh Bát Nhã
    .  Bát Nhã Tâm Kinh
    .  Kinh Kim Cang
   Các tác giả khác
    .  Kinh A Di Đà
    .  Kinh Pháp Hoa
    .  Kinh Kim Cang
    .  Kinh 42 Chương



Chùa Linh Sơn sẽ thông báo về chương trình Vu Lan 2008 trong thời gian rất ngắn. Xin quý Phật tử hãy theo dõi.


Nguồn Gốc Và Sự Phát Triển Lễ Hội Vu Lan

(Source: http://www.buddhismtoday.com)

Lễ Vu lan là một ngày lễ quan trọng trong Phật giáo. Căn cứ vào kinh Vu lan, hằng năm vào ngày rằm tháng bảy, lễ hội Vu lan được tổ chức long trọng để truy tiến cầu siêu cho tổ tiên cha mẹ đã quá vãng siêu sanh về miền tịnh cảnh. Trong kinh Vu lan đức phật dạy: “ Tôn giả Mục Kiền Liên sau khi chứng được lục thông, Ngài dùng Thiên nhãn quan sát thế giới nhìn thấy mẹ mình sinh làm ngạ quỷ, chịu các khổ báo mà không sao cứu mẹ ra được. Tôn giả đau buồn bi thảm liền quay về bạch hỏi đức Phật. Đức Phật nhân đó mà thuyết ra phương pháp cứu độ này. Vào ngày rằm tháng bảy, khi chúng Tăng Tự tứ, vì cha mẹ bảy đời, cha mẹ hiện tại đã quá vãng đang chịu các cảnh khổ mà dùng trăm món đồ ăn, đựng trong bồn bát cúng dường thập phương chúng Tăng. Nhờ công đức đó mà cha mẹ bảy đời được thoát cảnh ngạ quỷ, sanh lên làm người hoặc sanh vào cõi trời hưởng được các phước báo.” Đây chính là nhân duyên đức Phật thuyết kinh và từ đó lễ hội Vu lan được lưu hành trong Phật giáo.

Kinh Vu lan có nguồn gốc từ tiếng Phạn, do ngài Pháp Hộ (Dhamrmaraksha) dịch sang tiếng Hán vào đời Tây Tấn, nay còn lưu trong “Xuất Tam Tạng Ký Tập”, bản tiếng Phạn đã bị thất lạc. Toàn bản kinh Hán gồm 800 chữ, được dịch ra nhiều thứ tiếng như Nhật, Hàn, Việt nam. Ở Trung quốc, Nhật, Hàn và Việt nam có nhiều bản được dịch thành các thể loại thơ.

Ngoài ra ở Trung quốc còn có các bản dịch thời Đông Tấn tên là “Phật Thuyết Báo Ân Phụng Bồn Kinh” hay “Báo Chúng Công Đức Kinh”. Những bản dịch này văn nghĩa ngắn hơn, khoảng 300 chữ. Trong “Khai Nguyên Thính Giáo Lục” quyển thứ 18 có chép một bài kinh tên là “Tịnh Độ Vu Lan Bồn Kinh”, kinh này hiện đã thất lạc. Trong “Pháp Uyển Châu Lâm”, quyển 62 có chép một bản kinh tên là “Đại Bồn Tịnh Độ Kinh”. Bản này nói có 16 quốc vương sau khi nghe đức Phật thuyết xong câu chuyện Tôn giả Muc Liên cứu mẹ thoát vòng ngạ quỷ thì mỗi vị đều phát tâm làm các loại bồn quý, đựng các món thức ăn cúng dường Phật và Tăng chúng.

Theo bản “Vu Lan Bồn Kinh” của ngài Trúc Pháp Hộ dịch thì có nhiều chú giải rõ ràng và dễ hiểu nhất. Hiện có “Vu Lan Giảng Thuật” của Đường Huệ Tịnh, “Vu Lan Bồn Kinh Sớ” của Đường Tông Mật, “Vu Lan Bồn Kinh Sớ Tân Ký” của Tống Nguyên Chiếu, “Vu Lan Bồn Kinh Sớ Hội Cổ Thông Kim Ký” của Tống Phổ Quán, “Vu Lan Bốn Kinh Sớ Hiếu Hằng Sao” của Tống Ngộ Vinh, “Vu Lan Bồn Kinh Sớ Sao Dư Nghĩa” của Tống Nhật Tân, “Vu Lan Bồn Kinh Tân Sớ” của Minh Trí Húc, “Vu Lan Bồn Tích Trung Sớ” của Thanh Linh Diệu, “Vu Lan Bồn Kinh Lược Sớ” của Thanh Nguyên Kỳ. Trong các bản chú sớ này đều có một nội dung gần như giống nhau chỉ có một vài giải thích thuật ngữ có khác đôi chút, ngoài ra không có gì sai biệt nhau lắm.

Chữ Vu Lan Bồn có hai âm đọc, một âm là “Vu Lan”, một âm là “Bồn”. “Vu Lan” là âm tiếng Phạn “Ulam” có nghĩa là cứu đảo huyền, giải đảo huyền hoặc cứu tội treo ngược (hanging up side down); “Bồn” có nghĩa là đồ đựng thức ăn. Như trong “Vu Lan Bồn Kinh Giảng Thuật” của Đường Huệ Tịnh viết: “Đem các món thức ăn đựng trong bồn cúng dường Phật và chúng Tăng để cầu cứu nạn treo ngược nên gọi là Bồn”. Sớ của Đường Tông Mât chép: “Vu Lan là tiếng Tây Vức (Western Region) nghĩa là đảo huyền; chữ Bồn là âm đọc của người Hán đời Đông Hạ, có nghĩa là đồ đựng thức ăn dâng cúng”. Như vậy hiểu theo sát nghĩa thì Vu Lan Bồn là đồ đựng thức ăn để dâng cúng cứu tội treo ngược. Trong “Tân Sớ” của Minh Trí Húc, và “Tích Trung Sớ” của Nguyên Minh Kỳ cũng giải thích như vậy.

Có một cách giải thích khác cho rằng “Vu Lan Bồn” đều là âm dịch từ tiền Phạn. Theo “Nhứt Thiết Kinh Âm Tập” của Huyền Ứng chép: “Vu Lan Bồn dịch âm từ chữ Ulambana nghĩa là đảo huyền. Theo tục lệ người Tây Vực, đến ngày Tăng Tự Tứ, vì người quá cố trong gia đình tuyệt tự không có người thờ cúng mà lại đọa vào vòng ngạ quỷ, chịu tội báo treo ngược, vì vậy đức Phật chỉ bày cho mọi người trồng các cội công đức, bằng cách đem thức ăn cúng dường chư Phật và Tăng chúng, nhờ sức chú nguyện mà người quá cố được thoát cảnh địa ngục đói khát treo ngược. Xưa gọi Vu Lan Bồn là đồ đựng thức ăn là không đúng vậy”.

...tiếp theo


Góp ý kiến
Bạn là người thứ: free search engine submission image link
Free hit counter
  Thông tin
 

© 2008 Chùa Linh Sơn - Southwest Houston
12222 Sea Shore - Houston, Texas 77072
thichhuehoa@chualinhson.org